Từ ngày 01/07/2025, Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024 chính thức có hiệu lực với nhiều quy định mới liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Bài viết sau của Luật Nguyễn Khuyến sẽ cung cấp những thông tin quan trọng mà người lao động cần nắm rõ.
Xem thêm:
Những điểm mới cần chú ý về luật lao động có hiệu lực áp dụng kể từ tháng 7/2025
Hợp đồng cộng tác viên có cần đóng bảo hiểm xã hội không?
1. Tham gia Bảo hiểm xã hội từ 01/7/2025 sẽ không được rút Bảo hiểm xã hội 1 lần nếu không thuộc trường hợp quy định
Theo quy định tại điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động tham gia bảo hiểm từ ngày 01/07/2025 sẽ không thể rút bảo hiểm xã hội một lần nếu không thuộc các trường hợp sau:
- Đủ tuổi hưởng lương hưu mà chưa đóng bảo hiểm xã hội đủ từ 15 năm.
- Ra nước ngoài để định cư.
- Người đang mắc một trong các bệnh như: ung thư, xơ gan mất bù, bại liệt, lao nặng, AIDS.
- Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
- Người khuyết tật đặc biệt nặng.
- Người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội trước ngày 01/07/2025, sau 12 tháng không thuộc đối tượng phải đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc, cũng không đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện và có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm.

Điều này đồng nghĩa với việc, trường hợp người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội 01 lần từ 01/07/2025 sau 12 tháng nghỉ việc, không tham gia Bảo hiểm xã hội và có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm thì không được rút Bảo hiểm xã hội một lần nữa, đây là điểm mới mà người lao động cần đáng chú ý.
Xét về mặt tổng thể, Luật Bảo hiểm xã hội mới được sửa đổi, bổ sung theo hướng siết chặt điều kiện rút Bảo hiểm xã hội 01 lần, khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đóng Bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu, ổn định khi về già, hạn chế tình trạng rút ồ ạt dẫn đến mất quyền lợi lâu dài.
2. Đóng Bảo hiểm xã hội 15 năm cũng sẽ được hưởng lương hưu
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 có nhiều điểm mới so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, đặc biệt trong đó có nhiều quy định giúp mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHXH, trong đó có quy định về việc sẽ giảm điều kiện về số năm đóng BHXH tối thiểu từ 20 năm xuống còn 15 năm để được hưởng lương hưu hàng tháng.
Theo Điều 54 và 55 Luật Bảo hiểm xã hội cũ năm 2014, thời gian đóng BHXH tối thiểu để có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí của hầu hết các trường hợp đều là đủ 20 năm. Thời gian này được đánh giá còn khá dài dẫn tới nhiều người không tích lũy đủ số năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu.
Tuy nhiên, từ 01/7/2025, theo Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu và khi nghỉ việc có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên thì sẽ được hưởng lương hưu.
Với quy định điều kiện về thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tối thiểu chỉ còn 15 năm mở ra cơ hội cho người có thời gian lao động ngắn, không đủ thời gian đóng dài hạn nhưng vẫn muốn được hưởng lương hưu.
3. Thêm cơ hội hưởng lương hưu cho người đi xuất khẩu lao động
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 bảo đảm tốt hơn quyền tham gia và thụ hưởng chính sách Bảo hiểm xã hội đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam.
Theo đó, Luật ghi nhận quá trình công tác cũng như cách tính hưởng những quyền lợi với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài cũng như là người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong thời gian tới.
Cụ thể, khoản 4 Điều 66 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 bổ sung quy định tính cộng gộp thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội cả ở Việt Nam và nước ngoài cho người lao động.
Việc tính mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu mà có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội theo quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên nhưng có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam dưới 15 năm thì cứ mỗi năm đóng sẽ được tính bằng 2,25% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội.
Điều 8 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 còn quy định việc hợp tác quốc tế về Bảo hiểm xã hội theo hướng thúc đẩy đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về Bảo hiểm xã hội để bảo đảm quyền lợi cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, người lao động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam.
4. Giảm độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
Tại khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, trợ cấp hưu trí xã hội là loại hình Bảo hiểm xã hội do ngân sách nhà nước bảo đảm, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển một phần từ quy định về trợ cấp xã hội hằng tháng với người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp Bảo hiểm xã hội hằng tháng.
Theo đó căn cứ theo Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định đối tượng và điều kiện được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội sẽ được giảm xuống còn 75 tuổi giảm 5 tuổi so với quy định Luật Bảo hiểm xã hội cũ năm 2014.
Riêng đối với người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo thì từ đủ 70 – dưới 75 tuổi sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
5. Bổ sung quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bổ sung Chương VIII quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung, trong đó quy định cụ thể:
- Đối tượng có quyền tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
- Nguyên tắc của bảo hiểm hưu trí bổ sung.
- Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung.
- Chính sách của nhà nước đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Việc xây dựng quỹ hưu trí bổ sung nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng lao động và người lao động có thêm sự lựa chọn tham gia đóng góp để được hưởng mức lương hưu cao hơn.
6. Bổ sung đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
6.1. Đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc
Căn cứ theo điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 bổ sung 5 đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 01/07/2025, bao gồm:
- Chủ hộ kinh doanh cá thể.
- Dân quân thường trực.
- Cá nhân hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
- Chồng hoặc vợ được cử đi công tác nhiệm kỳ ở nước ngoài cùng thành viên cơ quan đại diện Việt Nam, không hưởng lương từ NSNN, được hưởng chế độ sinh hoạt phí.
- Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn góp của doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước, thành viên của hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên của ban kiểm soát, kiểm soát viên, người quản lý – điều hành của hợp tác xã/liên hiệp hợp tác xã không hưởng tiền lương.
6.2. Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội cũ năm 2014, người được tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc đối tượng phải tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, theo quy định mới tại điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên được tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện khi đáp ứng đủ 2 điều kiện sau:
- Không thuộc đối tượng phải tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Không được hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng hoặc trợ cấp Bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 còn bao gồm cán bộ, công chức, viên chức và cá nhân thuộc 1 trong 2 trường hợp sau đây đang tạm hoãn thực hiện hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động (trừ khi cả hai bên có thỏa thuận khác về việc đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc trong khoảng thời gian này):
- Làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc xác định thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên.
- Làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn.

7. Bổ sung đối tượng được hưởng chế độ ốm đau, thai sản Bảo hiểm xã hội
7.1. Lao động nữ điều trị vô sinh được hưởng chế độ thai sản
Theo quy định tại Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nữ phải nghỉ việc để điều trị vô sinh được hưởng chế độ thai sản nếu đã đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 24 tháng liền kề trước khi sinh con.
7.2. Người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ ốm đau, thai sản
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thuộc đối tượng phải đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng không thuộc diện được hưởng chế độ ốm đau, thai sản. Mức đóng cụ thể như sau:
- Người sử dụng lao động không chuyên trách ở cấp xã đóng 14%;
- Người lao động tự đóng 8% vào quỹ quỹ hưu trí và tử tuất.
Nhưng theo quy định của Luật BHXH năm 2024 thì người hoạt động không chuyên trách ở thôn, xã, tổ dân phố thuộc đối tượng phải đóng BHXH bắt buộc và người sử dụng lao động phải đóng 3% trên quỹ tiền lương vào quỹ ốm đau thai sản.
Như vậy từ ngày 01/07/2025, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố được hưởng chế độ ốm đau, thai sản nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
8. Tăng thời gian thực hiện quyền nghỉ thai sản với lao động nam
Căn cứ theo khoản 4 Điều 53 của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định ngày bắt đầu nghỉ việc hưởng chế độ thai sản của lao động nam:
- Trường hợp nghỉ việc một lần (không tách thành nhiều lần): Ngày bắt đầu nghỉ việc của lao động nam để hưởng chế độ thai sản phải trong vòng 60 ngày, kể từ ngày vợ sinh con.
- Trường hợp nghỉ nhiều lần: Ngày bắt đầu nghỉ của lần nghỉ cuối cùng phải trong vòng 60 ngày đầu, kể từ ngày vợ sinh con. Tổng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời hạn quy định.
So với quy định tại khoản 2 điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội cũ năm 2014 thì quy định mới được tính khoảng dài hơn 30 ngày.
9. Đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ thai sản và tai nạn lao động
Theo Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì từ ngày 01/07/2025, người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng thêm 2 chế độ là trợ cấp thai sản và bảo hiểm tai nạn lao động. Như vậy, người lao động sẽ được hưởng 4 chế độ khi đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm:
- Trợ cấp thai sản.
- Chế độ hưu trí.
- Chế độ tử tuất.
- Bảo hiểm tai nạn lao động tự nguyện.
Mức hưởng trợ cấp thai sản và tai nạn lao động được quy định như sau:
Theo Điều 95 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc tổng thời gian đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc và Bảo hiểm xã hội tự nguyện từ đủ 6 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con thì được hưởng trợ cấp thai sản 2.000.000 đồng cho:
- Mỗi con được sinh ra.
- Mỗi thai chết khi chuyển dạ.
- Mỗi thai chết từ 22 tuần tuổi trở lên.
Người lao động đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
10. Thay đổi quy định hưởng chế độ ốm đau bảo hiểm xã hội
10.1. Đối với chế độ nghỉ ngắn ngày
Căn cứ theo Điều 45 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người lao động xin nghỉ ốm nửa ngày được giải quyết chế độ ốm đau. Mức hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động được tính như sau:
Nghỉ ốm nửa ngày: Tính bằng 1/2 mức hưởng trợ cấp ốm đau 1 ngày;
Nghỉ ốm 1 ngày: Tính bằng mức hưởng trợ cấp ốm đau theo tháng chia cho 24 ngày.
Trường hợp người lao động nghỉ ốm không trọn ngày thì:
- Tính bằng 1/2 ngày nếu nghỉ việc dưới 1/2 ngày.
- Tính bằng 1 ngày nếu nghỉ việc từ 1/2 ngày đến dưới 1 ngày.
10.2. Đối với chế độ nghỉ dài ngày
Theo Điều 43 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 thì từ ngày 01/07/2025, người lao động mắc bệnh phải điều trị dài ngày không được nghỉ trọn 180 ngày nữa, mà thời gian nghỉ sẽ được xác định theo 2 tiêu chí sau đây (không phân biệt người đó mắc bệnh gì):
- Thời gian người lao động đóng Bảo hiểm xã hội.
- Điều kiện làm việc cụ thể.
Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về vấn đề “Những chính sách mới về bảo hiểm xã hội kể từ ngày 01/07/2025 mà người lao động cần phải biết”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!
23 Lượt xem