Trong thực tế, không ít trường hợp người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau đó vì hối hận, sợ bị truy tố trách nhiệm mà đã chủ động mang tài sản trả lại cho chủ sở hữu. Vậy khi trộm cắp tài sản nhưng đã trả lại tài sản cho người bị mất thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không? Trong bài viết dưới đây, Luật Nguyễn Khuyến sẽ cung cấp thông tin pháp lý liên quan đến vấn đề này.

I. Trộm cắp tài sản là như thế nào?
Theo quy định pháp luật hiện hành, không có quy định cụ thể về định nghĩa hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên dựa vào các yếu tố để cấu thành hành vi, thì trộm cắp tài sản có thể được hiểu là cá nhân cố ý thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức khác để thu lợi bất chính từ giá trị tài sản đó mang lại.
Một số đặc điểm để nhận biết hành vi trộm cắp tài sản bao gồm:
-
- Tài sản bị trộm cắp: Là tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ. Tài sản bị trộm cắp, chiếm đoạt có thể là các loại tiền, hàng hóa, giấy tờ có giấy trị thanh toán (ngân phiếu, công trái,…)
- Cách thức thực hiện: Người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản nhưng sự chiếm đoạt ở đây được thực hiện bằng hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của cá nhân, tổ chức quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như chen lấn, xô đẩy,… nhằm tiếp cận cá nhân, tổ chức để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Mục đích, động cơ của người phạm tội: Là cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác, biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc của người khác theo ý muốn, nhằm thực hiện các quyền của chủ sở hữu một cách trái pháp luật.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tội trộm cắp tài sản căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 được quy định như sau:
-
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên: phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản ở bất kỳ khung hình phạt nào tại Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (theo khoản 3, khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015);
- Người dưới 14 tuổi: không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất kỳ hành vi nào, kể cả trộm cắp tài sản.
II. Trộm cắp tài sản nhưng đã trả lại tài sản cho người bị mất thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không?
Hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã trả lại tài sản cho người bị mất thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, khi có hành vi trộm cắp mà đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ phát sinh ngay trách nhiệm hình sự tại thời điểm thực hiện hành vi. Tuy nhiên, tùy theo giá trị tài sản chiếm đoạt và các tình tiết tăng nặng/ giảm nhẹ khác mà có khung hình phạt khác nhau, cụ thể:
Căn cứ theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về trộm cắp tài sản quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Như vậy, tùy từng mức độ vi phạm, người có hành vi trộm cắp sẽ có thể bị truy cứu hình sự với khung hình phạt nặng nhất từ 12 năm đến 20 năm tù.
Bên cạnh đó, nếu có hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã trả lại tài sản cho người bị mất thì mặc dù không làm mất trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đây có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả thuộc một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Mặt khác, nếu người phạm tội không tự nguyện trả lại tài sản trộm cắp theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.
Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về “Trộm cắp tài sản nhưng đã trả lại tài sản cho người bị mất thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!
Xem thêm: Khi nào tranh chấp vay tiền bị chuyển từ tranh chấp Dân sự sang trách nhiệm Hình sự?
11 Lượt xem