Đất lấn, chiếm là một trong các vấn đề thường gặp trong quản lý và sử dụng đất đai. Nhiều người thắc mắc liệu rằng đất do lấn, chiếm thì có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không?. Bài viết dưới đây Luật Nguyễn Khuyến sẽ phân tích những quy định pháp luật hiện hành để giải quyết vấn đề trên.
Xem thêm:
Từ 2025, mua bán đất bằng giấy viết tay có đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không?
Khi nào đất không giấy tờ được cấp sổ đỏ?
1. Lấn, chiếm đất đai là gì?
Tại khoản 9, khoản 31 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định về hành vi chiếm đất, lấn đất như sau:
– Chiếm đất là việc sử dụng đất do Nhà nước đã quản lý mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp khác mà chưa được người đó cho phép.
– Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

2. Lấn, chiếm đất đai có được cấp Giấy chứng nhận không?
Lấn, chiếm đất là hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đất đai và bị thu hồi theo quy định tại Điều 81 Luật Đất đai 2024. Tuy nhiên có một số trường hợp, đất lấn chiếm vẫn có thể được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:
Căn cứ theo Điều 25 Nghị định 101/2024/NĐ-CP và Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 quy định các trường hợp lấn, chiếm đất vẫn được cấp Giấy chứng nhận bao gồm:
Trường hợp 1: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 do lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng.
- Nếu vẫn thuộc hành lang bảo vệ
Trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trước ngày 01/7/2014 do lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn đất, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 139 Luật Đất đai 2024, trường hợp này Nhà nước thu hồi đất để trả lại cho công trình mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với diện tích đất đã lấn, chiếm.
- Nếu không thuộc hành lang bảo vệ
Trường hợp đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mà nay diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng, không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Trường hợp 2: Lấn, chiếm đất có nguồn gốc nông, lâm trường đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trước ngày 01/07/2014.
- Nếu đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
Nếu đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì UBND tỉnh chỉ đạo thu hồi đất đã lấn chiếm để giao cho Ban quản lý rừng quản lý, sử dụng đất. Người đang sử dụng đất được ban quản lý khoán bảo vệ, phát triển rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Trường hợp không có Ban quản lý rừng thì người đang sử dụng đất lấn, chiếm được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất.
- Nếu đất lấn, chiếm đang được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng
Nếu đất lấn, chiếm đang được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

Trường hợp 3: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do lấn đất, chiếm đất trước ngày 01/7/2014 không thuộc các trường hợp quy định trên và trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Nếu người đang sử dụng đất lấn. chiếm trước ngày 01/07/2014 không thuộc các trường hợp nêu trên và đang sử dụng đất đúng mục đích đã được giao thì người đang sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Nếu người có sử dụng đất sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm thì bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
Trường hợp 4: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang, không có tranh chấp trước ngày 01/7/2014.
Căn cứ vào Khoản 4 Điều 139 Luật đất đai 2024, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang, không có tranh chấp thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo hạn mức giao đất nông nghiệp do UBND cấp tỉnh quy định.
Nếu vượt hạn mức thì diện tích phần vượt chuyển sang thuê đất của Nhà nước.
Tóm lại, đất lấn, chiếm trước ngày 01/07/2014 nếu đủ các điều kiện đất không có tranh chấp và người sử dụng đất ổn định lâu dài theo nghị định 101/2024/NĐ-CP và đủ các điều kiện thuộc 4 trường hợp nêu trên theo quy định tại Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất lấn, chiếm. Còn với đất lấn, chiếm sau ngày 01/07/2014 thì Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận và xử lý theo quy định của pháp luật.
Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về vấn đề “Đất lấn, chiếm có được cấp Giấy chứng nhận không?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!
29 Lượt xem