Trong thực tế, khi giao kết hợp đồng đặt cọc để bảo đảm việc chuyển nhượng tài sản, các bên có thể không thỏa thuận cụ thể về thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng chính thức. Vậy trong trường hợp hợp đồng đặt cọc không quy định thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng, khi nào một bên có quyền yêu cầu trả lại tiền cọc hoặc phạt cọc? Trong bài viết dưới đây, Luật Nguyễn Khuyến sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

I. Hợp đồng đặt cọc là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Cùng với đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng đặt cọc là sự thỏa thuận giữa các bên bằng văn bản về việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị nhằm bảo đảm việc giao kết hoặc thực hiện một hợp đồng trong tương lai.
Hợp đồng đặt cọc không quy định thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng là sự thỏa thuận giữa bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc, theo đó bên đặt cọc giao tài sản đặt cọc cho bên nhận đặt cọc nhằm đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng trong tương lai, nhưng không xác định thời điểm hoặc thời hạn phải thực hiện việc giao kết.
Cùng với đó, theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong đó:
-
- Trả cọc được hiểu là việc hoàn trả lại đúng tài sản (tiền, vàng, vật có giá trị,…). Đây là nghĩa vụ cơ bản để khôi phục lại tình trạng ban đầu khi giao dịch không thành hoặc đã hoàn tất.
- Phạt cọc được hiểu là khoản tiền phạt thêm mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm (ngoài việc xử lý tài sản đặt cọc).
II. Đối với hợp đồng đặt cọc không quy định thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng thì khi nào một bên được yêu cầu trả cọc hoặc phạt cọc?

Khi hợp đồng đặt cọc không quy định thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng, một bên được yêu cầu trả cọc hoặc phạt cọc trong các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Một bên đã thông báo ấn định một thời gian thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng hợp lý nhưng bên còn lại không thực hiện.
Theo khoản 3 Điều 278 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.
Theo đó, khi hợp đồng đặt cọc không ghi thời hạn thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng thì cả hai bên đều có quyền ấn định việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng vào bất cứ lúc nào và phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý. Việc thông báo có thể thực hiện bằng một trong các phương thức chẳng hạn như: Gửi văn bản thông báo ấn định thời hạn cụ thể thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng qua đường bưu điện hoặc thuê thừa phát lại lập vi bằng về việc gửi thông báo đề nghị hoặc bằng hình thức nào thuận tiện theo thỏa thuận của các bên.
Như vậy, nếu quá thời hạn kể từ ngày nhận được thông báo mà bên kia không ký kết hợp đồng chuyển nhượng hoặc không phản hồi thì được xem là từ chối giao kết hợp đồng. Khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, việc xử lý tài sản đặt cọc và phạt cọc sẽ được thực hiện như sau:
-
- Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng: Bên đặt cọc bị mất tài sản đặt cọc, tài sản này thuộc về bên nhận đặt cọc. Khi đó, bên nhận đặt cọc có quyền chuyển nhượng tài sản cho người khác mà không phải chịu phạt cọc.
- Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng: Bên nhận đặt cọc phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc (phạt cọc), trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, nếu bên nhận thông báo có văn bản trả lời và đề nghị một thời hạn khác thì bên thông báo có thể xem xét chấp nhận đề nghị đó. Nếu hết thời hạn mới này mà bên đó vẫn không ký kết hợp đồng thì được xem là từ chối giao kết, và hậu quả pháp lý được xử lý theo quy định pháp luật như nêu trên.
Trường hợp 2: Bên nhận đặt cọc chuyển nhượng tài sản cho bên thứ ba
Căn cứ tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.
Theo đó, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận ấn định cụ thể thời gian thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nếu bên nhận đặt cọc chuyển nhượng tài sản cho người khác, khiến cho tài sản không còn để thực hiện nghĩa vụ với bên đặt cọc thì hành vi này được xem là từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng với bên đặt cọc.
Khi đó, bên đặt cọc có quyền yêu cầu bên nhận đặt cọc trả lại tài sản đặt cọc và thanh toán khoản phạt cọc tương đương giá trị tài sản đặt cọc, hoặc theo mức mà các bên đã thỏa thuận theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp 3: Bên nhận đặt cọc thay đổi điều kiện trong hợp đồng chuyển nhượng tài sản
Nếu bên nhận đặt cọc đơn phương đưa ra điều kiện mới vượt ra ngoài thỏa thuận ban đầu (ví dụ: Tăng giá, thay đổi tiến độ thanh toán, bổ sung nghĩa vụ,…). Việc đưa ra điều kiện mới này chính là hành vi đơn phương thay đổi nội dung cam kết ban đầu, trái với nghĩa vụ bảo đảm giao kết hợp đồng theo thỏa thuận. Bên đặt cọc không có nghĩa vụ phải chấp nhận một đề nghị sửa đổi trái với thỏa thuận ban đầu và việc không chấp nhận này không bị coi là từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng.
Ngược lại, nếu bên nhận đặt cọc kiên quyết chỉ ký hợp đồng khi bên đặt cọc chấp nhận điều kiện mới thì việc không giao kết được hợp đồng là do lỗi của bên nhận đặt cọc. Hành vi này được xem là từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng. Khi đó, theo khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015, bên đặt cọc có quyền yêu cầu bên nhận đặt cọc hoàn trả tài sản đặt cọc và phạt cọc theo quy định.
Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về “Trong trường hợp hợp đồng đặt cọc không quy định thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng, khi nào một bên có quyền yêu cầu trả lại tiền cọc hoặc phạt cọc?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!
0 Lượt xem