Có đòi nợ được doanh nghiệp đã giải thể rồi không?

Doanh nghiệp sau khi hoàn tất thủ tục giải thể sẽ chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý. Vậy trong trường hợp doanh nghiệp vẫn còn các khoản nợ chưa thanh toán mà đã giải thể thì chủ nợ có đòi nợ được nữa hay không? Trong bài viết dưới đây, Luật Nguyễn Khuyến sẽ cung cấp thông tin pháp lý cho quý bạn đọc về vấn đề này.

Có đòi nợ được doanh nghiệp đã bị giải thể rồi không? (Ảnh minh họa)
Có đòi nợ được doanh nghiệp đã bị giải thể rồi không? (Ảnh minh họa)

I. Khi nào thì doanh nghiệp bị giải thể?

“Đã giải thể” là tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, cụ thể tại khoản 7 Điều 35 Nghị định 168/2025/NĐ-CP quy định như sau:

“7. “Đã giải thể, phá sản, chấm dứt tồn tại” là tình trạng pháp lý của doanh nghiệp đã được Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh ra thông báo về việc giải thể; doanh nghiệp có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án theo quy định của pháp luật về phá sản; doanh nghiệp chấm dứt tồn tại do bị chia, bị hợp nhất, bị sáp nhập theo quy định tại Luật Doanh nghiệp.”

Căn cứ tại khoản 1 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020, được sửa đổi bởi khoản 23 Điều 1 Luật số 76/2025/QH15 quy định doanh nghiệp bị giải thể trong trường hợp sau đây:

a. Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;

b. Theo nghị quyết, quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông với công ty cổ phần;

c. Công ty không còn đủ số lượng thành viên, cổ đông tối thiểu theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020 trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;

d. Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định khác.

Theo đó, có thể hiểu, doanh nghiệp có thể giải thể bằng hình thức tự nguyện (tương ứng với các trường hợp a, b, c) hoặc hình thức bắt buộc (tương ứng với trường hợp d).

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 207 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài.

Như vậy, doanh nghiệp bảo đảm điều kiện thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc Trọng tài; đồng thời thuộc các trường hợp giải thể nêu trên thì doanh nghiệp bị giải thể.

II. Có đòi nợ được doanh nghiệp đã giải thể rồi không?

1. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo

Căn cứ tại Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:

“1. Hồ sơ giải thể doanh nghiệp bao gồm các giấy tờ sau đây: 

a) Thông báo về giải thể doanh nghiệp;

b) Báo cáo thanh lý tài sản doanh nghiệp; danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động sau khi quyết định giải thể doanh nghiệp (nếu có).

2. Thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần, thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữu công ty, chủ doanh nghiệp tư nhân, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, thành viên hợp danh, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể doanh nghiệp. 

3. Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, những người quy định tại khoản 2 Điều này phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết, số thuế chưa nộp, số nợ khác chưa thanh toán và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.”

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“Điều 288. Thực hiện nghĩa vụ liên đới

1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.”

Với các quy định nêu trên và các trường hợp doanh nghiệp bị giải thể đã phân tích ở phần I thì doanh nghiệp chỉ giải thể khi đã thanh toán hết các khoản nợ. Theo đó, việc doanh nghiệp đã giải thể nhưng thực tế vẫn còn khoản nợ chưa thanh toán có thể là cơ sở cho thấy hồ sơ giải thể (cụ thể là tài liệu báo cáo danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán) của doanh nghiệp là không chính xác, giả mạo. 

Đối với trường hợp này, các thành viên quy định tại khoản 2 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ đó và những hệ quả phát sinh trong thời hạn 05 năm kể từ ngày doanh nghiệp nộp hồ sơ giải thể đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Như vậy, chủ nợ có thể xem xét tính chính xác, trung thực của hồ sơ giải thể để yêu cầu những người có nghĩa vụ phải liên đới theo quy định chịu trách nhiệm trả các khoản nợ đó.

2. Trường hợp chủ nợ đang khởi kiện đòi nợ thì doanh nghiệp bị giải thể

Trường hợp chủ nợ thực hiện thủ tục khởi kiện đòi nợ và đang trong quá trình giải quyết vụ án thì doanh nghiệp bị giải thể, căn cứ theo khoản 2 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

“Điều 74. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

2. Trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức đó được xác định như sau:

a) Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng”

Như vậy, doanh nghiệp đang tham gia tố tụng mà bị giải thể thì cá nhân, tổ chức là thành viên của doanh nghiệp đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng để kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của doanh nghiệp. Việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng chỉ nhằm bảo đảm vụ án tiếp tục được giải quyết.

Còn việc chủ nợ có đòi được nợ hay không thì phải theo phán quyết của Tòa án dựa trên các tài liệu, chứng cứ và các quy định của pháp luật có liên quan. Trong đó, nếu vụ án thuộc trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 210 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu trên thì những người có nghĩa vụ liên đới theo quy định sẽ phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ đấy.

Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về “Có đòi nợ được doanh nghiệp đã giải thể rồi không?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!

Xem thêm: Những quy định mới liên quan đến xử phạt trong lĩnh vực đất đai từ 31/08/2026

9 Lượt xem
Bài viết liên quan