Một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất, các đồng thừa kế khác phải làm như thế nào?

Khi một người qua đời và để lại nhà đất, quá trình quản lý di sản trước khi phân chia thừa kế có thể phát sinh tranh chấp giữa những người được hưởng di sản. Đặc biệt, việc một người thừa kế tự ý chiếm giữ, sử dụng hoặc cho thuê tài sản và thu tiền mà không có sự thống nhất với những người còn lại có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Vậy trong trường hợp này, các đồng thừa kế cần thực hiện những biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi của mình? Trong bài viết dưới đây, Luật Nguyễn Khuyến sẽ làm rõ các quy định pháp luật liên quan và hướng xử lý phù hợp.

Một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất (Ảnh minh họa)
Một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất (Ảnh minh họa)

I. Người quản lý di sản là ai?

Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra theo quy định tại khoản 1 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015.

Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản. Nếu cũng không có người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Căn cứ theo Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của người quản lý di sản như sau:

    • Đối với người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc, người được những người thừa kế thỏa thuận cử hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý:
      • Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
      • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
      • Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;
      • Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
      • Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
    • Đối với người quản lý di sản là người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản:
      • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác;
      • Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
      • Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
      • Giao lại di sản theo thỏa thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

Như vậy, người thừa kế chỉ được xác định là người quản lý di sản khi người để lại di sản chỉ định trong di chúc, hoặc được những người thừa kế thỏa thuận cử ra, hoặc là người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản trong trường hợp di chúc không chỉ định và những người thừa kế chưa cử được người quản lý. 

II. Một người thừa kế có được tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất không?

Căn cứ tại Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015, từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Trong trường hợp chưa phân chia di sản chính thức thì quyền sử dụng đất thừa kế vẫn được coi là tài sản chung. Theo quy định tại Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật. 

Cùng với đó, như đã phân tích ở trên, một người thừa kế không đương nhiên là người được quản lý di sản. Kể cả trường hợp khi người thừa kế đó được xác định là người quản lý di sản theo quy định thì người thừa kế cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của người quản lý di sản theo Điều 617 Bộ luật dân sự 2015, trong đó có nghĩa vụ liên quan đến việc bảo quản di sản, người quản lý di sản không được tự ý định đoạt tài sản thừa kế (Ví dụ: cho thuê, chuyển nhượng, tặng cho, thuế chấp hoặc các quyền định đoạt bằng các hình thức khác). 

Như vậy,  vì khi đó nhà đất vẫn thuộc khối tài sản chung của các đồng thừa kế; mọi hành vi quản lý, cho thuê hoặc định đoạt phải có sự thỏa thuận của các đồng thừa kế hoặc theo quy định pháp luật.

III. Trường hợp một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất, các đồng thừa kế khác phải làm như thế nào?

Trường hợp một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất là hành vi vi phạm nguyên tắc quản lý di sản chung. Theo đó, các đồng thừa kế khác có thể xử lý như sau:

Một là, các đồng thừa kế tự thương lượng, thỏa thuận với nhau:

    • Xác định tư cách quản lý di sản: Theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 về người quản lý di sản, các đồng thừa kế thống nhất cử một người thừa kế là người quản lý di sản, lập văn bản quy định phạm vi quyền hạn quản lý di sản (có được cho thuê hay không, thời hạn cho thuê, giá thuê tối thiểu, nghĩa vụ báo cáo thu chi,…).
    • Yêu cầu chấm dứt hành vi tự ý cho thuê và minh bạch khoản tiền đã thu: Vì quyền sử dụng đất là tài sản chung, việc cho thuê phải được các đồng thừa kế cùng đồng ý theo khoản 2 Điều 218 Bộ luật Dân sự 2015. Các đồng thừa kế khác có quyền gửi văn bản yêu cầu người kia chấm dứt việc tự ý cho thuê, cung cấp hợp đồng thuê và sao kê số tiền đã thu. Tiền thuê là hoa lợi, lợi tức theo Điều 221 Bộ luật Dân sự 2015, cần được chia theo phần quyền của mỗi người sau khi trừ chi phí hợp lý.

Hai là, các đồng thừa kế bị ảnh hưởng có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

Trường hợp các đồng thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các đồng thừa kế có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình liên quan đến tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Cụ thể:

    • Về thẩm quyền của Tòa án: Đối với tranh chấp liên quan đến di sản là quyền sử dụng đất sẽ do Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. 
    • Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
      • Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản (bao gồm quyền sử dụng đất và nhà ở), kể từ thời điểm mở thừa kế. 
      • Trường hợp yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, thời hiệu là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về “Một người thừa kế tự ý quản lý hoặc cho thuê nhà đất của người đã mất, các đồng thừa kế khác phải làm như thế nào?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!

Xem thêm: Trường hợp hàng xóm lấn chiếm lối đi chung, có thể yêu cầu tháo dỡ không?

 

0 Lượt xem
Bài viết liên quan