Nhà đầu tư nước ngoài khi rút lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam phải chịu các khoản thuế nào?

Hoạt động đầu tư tại Việt Nam mang lại cơ hội sinh lời cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Sau khi doanh nghiệp phát sinh lợi nhuận, một trong những vấn đề được các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm là khi rút lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam phải chịu các khoản thuế nào? Trong bài viết dưới đây, Luật Nguyễn Khuyến sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành để giúp quý bạn đọc hiểu rõ vấn đề này.

Nhà đầu tư nước ngoài nộp thuế (Ảnh minh họa)
Nhà đầu tư nước ngoài nộp thuế (Ảnh minh họa)

1. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân

Căn cứ khoản 2 Điều 9 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cổ tức nhận được từ việc góp vốn mua cổ phần; lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và các hình thức kinh doanh khác theo quy định của pháp luật; lợi tức nhận được do tham gia góp vốn vào tổ chức tín dụng; lợi tức nhận được do góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán và quỹ đầu tư khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật là thu nhập từ đầu tư vốn.

Đồng thời, căn cứ tại khoản 3 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thì thu nhập từ đầu tư vốn là một trong các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.

Như vậy, khoản lợi nhuận hoặc cổ tức được chia từ hoạt động góp vốn tại doanh nghiệp Việt Nam được xác định là thu nhập từ đầu tư vốn và thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân.

Mức thuế suất áp dụng đối với cá nhân không cư trú (nhà đầu tư nước ngoài) nhận thu nhập từ đầu tư vốn tại Việt Nam phải nộp thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 5% trên khoản thu nhập nhận được. Ngoài ra, nếu nhà đầu tư đồng thời thực hiện chuyển nhượng phần vốn góp hoặc cổ phần, thì khoản thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng vốn sẽ phát sinh nghĩa vụ thuế riêng. Đối với chuyển nhượng chứng khoán, cá nhân không cư trú phải nộp thuế thu nhập cá nhân với mức 0,1% trên giá chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thuế.

2. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức

Căn cứ khoản 7 Điều 4 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước sau khi doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thuộc thu nhập được miễn thuế, kể cả trường hợp doanh nghiệp trả thu nhập đang được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo quy định này, khoản lợi nhuận mà tổ chức nước ngoài nhận được từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam là lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, khi doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp, việc phân chia và chuyển lợi nhuận cho nhà đầu tư nước ngoài không làm phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế khấu trừ tại nguồn tại Việt Nam. Nói cách khác, hiện nay Việt Nam không đánh thuế khấu trừ đối với cổ tức/lợi tức trả cho tổ chức nước ngoài. Doanh nghiệp chỉ cần lưu giữ hồ sơ cư trú thuế và áp dụng hiệp định thuế (nếu có).

Ngoài ra, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn chuyển lợi nhuận từ hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam ra nước ngoài thì không phải chịu một loại thuế riêng. Bởi lẽ, nghĩa vụ thuế chủ yếu phát sinh ở giai đoạn tạo ra lợi nhuận hoặc khi nhà đầu tư là cá nhân nhận thu nhập từ đầu tư vốn, tùy thuộc vào tư cách của nhà đầu tư và bản chất của khoản thu nhập. Theo quy định của pháp luật, sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận hợp pháp từ hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế và quản lý ngoại hối.

Qua bài viết trên đây, Luật Nguyễn Khuyến đã cung cấp những thông tin pháp lý về “Nhà đầu tư nước ngoài khi rút lợi nhuận từ hoạt động đầu tư tại Việt Nam phải chịu các khoản thuế nào?”. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc pháp lý cần giải đáp, vui lòng liên hệ tới Luật Nguyễn Khuyến qua SĐT: 0947 867 365 (Luật sư Nguyễn Bỉnh Hiếu) để được Luật sư tư vấn chính xác và kịp thời. Luật Nguyễn Khuyến chân thành cảm ơn!

Xem thêm: Quy định mới về ĐKDN qua mạng thông tin điện tử theo Nghị định số 296/2026/NĐ-CP

8 Lượt xem
Bài viết liên quan